11 tháng 4, 2011

Chữa di, mộng tinh

Tây y và y học cổ truyền có những quan điểm khác nhau về di, mộng tinh, nhưng đồng thời cũng có điểm tương đồng.

Nguyên nhân theo y học cổ truyền

Tây y và y học cổ truyền (YHCT) đều cho rằng: "Mộng tinh là trường hợp nam giới trong lúc ngủ mơ thấy mình đang âu yếm, hay giao hợp với phụ nữ nào đó mà mình thích, thương yêu dẫn đến xuất tinh. Còn trường hợp không thấy giao hợp, hay âu yếm ai hết, nhưng vẫn xuất tinh thì gọi là di tinh".

YHCT quan niệm, việc nam giới bị di, mộng tinh là do âm hư nội nhiệt hoặc phiền lao quá mức, âm huyết hao tổn, hay do vọng tưởng nghĩ ngợi nhiều, buông thả tình dục làm tổn thương đến thận âm.

Chua di mong tinh
Chua di mong tinh
Hai vị thuốc trong bài "Nhị diệu tán" - huỳnh bá (H1), thương truật (H2) - Ảnh: H.Mai
Thấp nhiệt bên trong, ăn uống không điều độ ảnh hưởng đến tỳ vị, thấp nhiệt từ trong sinh ra, dồn xuống gây rối tinh nên dẫn đến di tinh. Còn mộng tinh và hoạt tinh, có thuyết cho rằng, ngủ mà mơ rồi xuất tinh là bệnh ở tâm, không mơ mà vẫn xuất tinh là bệnh ở thận. Theo lương y Phạm Như Tá (TP.HCM): "Mơ rồi xuất tinh thường gặp ở loại âm hư hỏa vượng; không mơ mà xuất tinh thường gặp ở loại thận hư không bền (thận hư không bền thường là do thủ dâm hoặc phòng sự quá mức, làm tổn hại đến thận tinh)".

Chữa theo thể

Ở góc độ Tây y, thế giới chỉ xem mộng tinh, di tinh là tình trạng "Tăng tiết dịch niệu đạo", và việc chữa trị chủ yếu là chữa về tâm lý. Còn YHCT chữa trị di, mộng tinh tùy theo thể. Chẳng hạn, với thể thận hư không bền (cả thận âm và thận dương đều suy) - triệu chứng: mộng tinh, hoạt tinh, chóng mặt, tiểu đêm, đau lưng, ù tai, người mệt mỏi, sắc mặt xanh nhợt nhạt, sợ lạnh, tay chân lạnh... Phép trị ở trường hợp này là "tư âm giáng hỏa, bổ âm trợ dương". Bài thuốc gồm các vị: thục địa 20gr, hoài sơn, phục linh, cao ban long (mỗi thứ 12gr), đơn bì, sơn thù, liên tử, tật lê, khiếm thiệt, liên tu (mỗi vị 10gr), trạch tả, mẫu lệ, long cốt (mỗi vị 8gr), phụ tử, nhục quế (mỗi vị 4gr), ngũ vị, xa tiền (mỗi vị 6gr). Bài thuốc có công dụng bổ thận, cố tinh, an thần. Cách nấu (sắc): cho các vị thuốc cùng 4 chén nước, nấu còn 1 chén, cho nước thuốc ra, cho tiếp 3 chén nước vào nấu lần hai, nấu còn nửa chén. Hòa hai nước lại, chia làm 3 lần để dùng (sáng, chiều, tối). Dùng trước hoặc sau bữa ăn hơn 1 giờ, lúc nước thuốc còn ấm. Nếu thận âm suy, có thể thêm hai vị là sinh địa và mạch đông. Nếu thận dương suy, thì thêm hai vị ba kích và tỏa dương.

Ngoài ra, còn có thể dùng châm cứu. Với mộng tinh, thì châm huyệt chính (tâm du, thần môn, thận du, tâm giao, và huyệt phụ (trung cực, quan nguyên, trung phong, thái xung). Còn di tinh thì châm huyệt chính (thận du, quan nguyên, túc tam lý) và huyệt phụ (khí hải, trung cực, tam âm giao).

Với thể âm hư hỏa vượng - triệu chứng: ngủ không yên, hay mơ, dễ tỉnh giấc, dương vật dễ cương, di mộng tinh, hoặc tảo tiết tinh (xuất tinh sớm), tinh thần mệt mỏi, tim đập nhanh, nước tiểu vàng... Phép trị thể này là "tư âm thanh hỏa, cố tinh, an thần". Với bài thuốc "Lục vị tri bá gia giảm", còn có tên "Tri bá bát vị hoàn", gồm những vị: hoài sơn, sơn thù (mỗi vị 12gr), đơn bì, tri mẫu, huỳnh bá, phục linh (mỗi vị 10gr), 8gr trạch tả, 20gr thục địa. Cách sắc, cách dùng cũng giống như trên. Bài thuốc có công dụng bổ can thận, thanh tâm, an thần. Nếu cần thì thêm các vị (táo nhân, ngũ vị, mẫu lệ, long cốt) để an thần, cố tinh. Nếu bệnh lâu ngày chữa chậm khỏi thì thêm khiếm thiệt và kim anh tử. Còn với thể thấp nhiệt - triệu chứng gồm: di mộng tinh, miệng đắng, hay khát nước, nước tiểu nóng, màu vàng... Phép trị là thanh nhiệt, hóa thấp, với bài "Nhị diệu tán", chỉ với hai vị là thương truật và huỳnh bá (mỗi thứ 12gr). Bài thuốc có công dụng thanh nhiệt, táo thấp. Nếu tiểu nóng, vàng, gắt thì thêm 3 vị (tỳ giải, tri mẫu và trạch tả).

Hạ Mai

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét